Cái tên của lịch sử
Ngày đặt tên cho VMĐ Làng Diền. , tôi cứ nghĩ mãi về một biểu tượng mà tôi đã nhìn đâu đó thấy ở một cánh đồng Ucraina …

Lính của xa hoàng đi trên những chiếc pedal gear rất lớn – , ơ trên đó có ghi vài dòng : không phải bởi vì những chú ngựa này chạy nhanh quá làm lên chiến thằng
….mà là đội chiến mã nào có khả năng tồn tại lâu hơn khi giáp lá cà, mới là điều quyết định. Thế là người ta áp dụng một công nghệ, chuyển hoá năng lượng.
Làm sao để chuyển cái nhanh sang làm cái khoẻ, và lấy tiêu chuẩn của cái khoẻ để thiết kế lên cỗ chiến mã . Khi tôi nhìn thấy cảnh tượng này, tôi bỗng nhớ đến cái ngày bấm bật móng chân để
cố gắng tự kéo một chiếc xe cải tiến có 20 bó lúa nếp – đi lên một con dốc 15% dài khoảng 150 met. Vấn đề không phải không đủ sức mà vấn đề là ở tốc độ thấp, lực ma sát lại tỷ lệ nghịch ( cao ) cho nên
sức lực bị waste vào việc thắng lực ma sát là chính, chứ cũng chẳng tiến lên được bao nhiêu. Mà cuộc đời các con dốc hay thiết kế là : nếu chênh ít thì phải dài . Mà các cụ ngày xưa thì khác, họ dùng Gear lớn và
không cần quá năng suất, không cần quá nhanh. Vẫn thừa đủ ăn. Cái dở của ngày đó có lẽ không phải chất lượng nông sản mà là quy cách phân phối lợi nhuận nào được đưa ra khế ước ?

Bạn thử hình dung nhé, nếu một chiếc động cơ mà là một con vật có sức mạnh như ngựa và cảm xúc mạnh mẽ như Ngựa thì làm thế nào để chế ngự được sức mạnh ấy, và
biến nó thành sức mạnh của cả đoàn quân nằm trên lưng những chiến mã ấy ! . Đó là những gì xa Hoàng làm lên ở những cánh đồng nga …
Nếu định làm một thứ khác đi thì phải nắm rõ cách thức cải tiến , (cách thức sáng tạo đổi mới )
Tôi tìm ra mọi điều khi mỗi chiều đạp chiếc xe đạp không có xích mà có 3 nấc gear . Đo khoảng force load của mỗi gear, bạn có thể hình dung ra sức khoẻ của người bản địa, chất lượng những con đường
và thói quen sinh hoạt của họ.



Thầy và trò ngày xưa
Cập nhật, 10:58, Thứ Ba, 17/04/2018 (GMT+7)
Triều Tự Đức (1848- 1883), ở Thăng Long có 2 trường đại học được tiếng nhất là trường cụ cử Võ Thạch và trường cụ cử Kim Cổ.
Cụ Võ Thạch tên húy là Nguyễn Huy Đức, người làng Võ Thạch (huyện Thọ Xương- Hà Nội) đỗ cử nhân thứ 11 trường Hà Nội, khoa Mậu Ngọ vào niên hiệu Tự Đức thứ 11 (1858). Cụ là nhà túc nho, không chịu ra làm quan, ở nhà mở trường dạy học.
Trường cụ đào tạo được nhiều danh thần buổi ấy, nhưng bao giờ đến nhà thầy họ cũng vẫn giữ lễ như học trò cụ Chu Văn An.
Hồi ấy, Nhà nước mới lập ra Nha Kinh lược Bắc Kỳ. Quan Kinh lược có ý thu dụng những bậc túc học. Nhân cụ Võ Thạch có 2 học trò đang làm việc với chức tham biện và thượng tá ở nha ấy, quan Kinh lược nhờ ngay 2 người học trò về mời cụ đến.
Vì nể học trò cũ cố nài nỉ, cụ bất đắc dĩ phải vào hầu. Thềm thì cao, cụ thì già, 2 học trò phải dìu, cụ cáo là có mục tật (bệnh mắt). Quan Kinh mục xứ đang ngồi trên cung đường vội chạy ra thềm đón mời vào ngồi chơi, rồi đạo đạt với cụ về việc nước, có ý dùng cụ.
Cụ nhất định từ chối vì tuổi già e không kham nổi. 2-3 phen quan Kinh lược nài ép, cụ vẫn khăng khăng một mực từ chối. Lúc cáo ra về, quan Kinh lược sai lấy 2 cây the, 2 nén bạc ra tặng, cụ không nhận… Nghe đâu về sau vì sợ lại bị triệu nữa, cụ phải về quê ngoại mai danh ẩn tích.
Còn học trò cũ đối với thầy thế nào? Một cụ đồ nho kể lại: Ông Đỗ Văn Tâm hiệu là Gia Xuyên, người làng Đại Gia (phủ Thường Tín) là học trò cũ đỗ đồng tiến sĩ khoa Canh Thìn năm 1880, làm tuần phủ tỉnh Thái Bình. Một ngày có việc phải về Hà Nội, người mà ông đến thăm trước nhất là thầy học.
Ông xuống võng từ xa, lấy áo tấc mặc, rồi tự mình bưng một cái khay đựng một cân chè, 5 nén bạc đến nhà thầy. Vào đến sân, sau khi chào thầy, đặt khay trên thềm, lạy 2 lạy rồi chắp tay đứng nói: “Bẩm thầy, con từ tỉnh về gọi là có ít chè để thầy xơi nước và chút ít để thầy dùng”.
Cụ Võ Thạch lúc ấy đang ngồi chấm sách trên phản, ngừng tay hỏi: “Anh Tâm đấy à, anh cho thầy gì thế, chè rồi lại cả bạc nữa! Chè thì nhiều quá, mà bạc thì thầy tiêu gì mà lấy? Thầy lấy một bao chè thôi”. Nói xong, cụ gọi trẻ đun nước, hiềm vì lúc ấy không có ai trên nhà học.
Ông Tâm vội đứng dậy thưa: “Bẩm thầy, để con đi đun nước”. Rồi ông quan ấy cho nước vào siêu, ra giậu bẻ nan đóm, đun nước hầu thầy như hồi còn là học trò đến nghe sách làm phận sự trước giờ học vậy.
Thời xưa, cái tình sư đệ là như thế, có ông thầy như thế tất phải có những học trò như thế!
Nếu nhưng được phép “connecting the dot ” tôi sẽ nối Diền – với Gốc Gạo . Vì sao ? Bởi vì thần cây của làng diền là cây gạo, và họ có đình thượng thờ cây cao.
Và làng gốc gạo cũng là một cái xóm tụ bởi 16 người làng Diền đi làm kinh tế mới, khi đến đó, cũng có những gốc gạo lớn ! .
Tôi có thể đoán được họ đã cảm thấy ấm áp thế nào, khi nhìn thấy bóng dáng quê nhà vẫn luôn ở ngay dưới những tán cây gạo . Cho nên người Gốc Gạo tinh thần vì tập thể rất lớn.
Bất cứ nhà ai có việc, cả làng đều đến để giúp !